Thursday, January 29, 2026

KẾ HOẠCH XÂM CHIẾM THÔN TÍNH ĐÀI LOAN 2027 BỊ BỂ DĨA


Tập nhất quyết muốn hoàn thành một việc lớn, đó là thôn tính Đài Loan năm 2027 . Việc này chủ yếu dựa vào hai quân chủng lớn là Lực lượng Hoả tiễn và Hải quân. Tuy nhiên, điều thú vị là khi nắm quyền lực trong tay, ông lại lo ngại bị đe dọa quyền lực, nên đã thanh trừng quy mô lớn đối với lực lượng này. Không ngờ, do vấn đề quyền lực của chính mình, các đối thủ chính trị của ông đã lên nắm quyền, và lại tiếp tục thanh trừng những người thân tín và cốt cán của Tập, đặc biệt là trong hệ thống Hải quân.


NHƯNG:
Tin mới nhất về vụ Trương và Lưu
KẾ HOẠCH NÀY SẼ RA SAO>????
Tổng Tham mưu trưởng, tướng Lưu Chấn Lập bị bắt giữ. Phó Tổng Tham mưu trưởng, tướng Chu Thanh Lăng bị cách chức. Phó Tổng Tham mưu trưởng, Trung tướng Cảnh Kiến Phong thuộc Không quân bị cách chức. Phó Tổng Tham mưu trưởng, Trung tướng Trương Chân Trung thuộc Lực lượng Tên lửa bị bắt giữ. Phó Tổng Tham mưu trưởng, Trung tướng Tào Thanh Phong bị bắt giữ. Phó Tổng Tham mưu trưởng, Trung đô đốc Vũ Hưng Phong thuộc Hải quân bị cách chức.
Sau khi Trương Chân Trung bị bắt, Vũ Hưng Phong được thăng chức từ Trợ lý Tổng Tham mưu trưởng lên Phó Tổng Tham mưu trưởng. Trong Ban Tham mưu Quân ủy Trung ương khóa 20, một Tổng Tham mưu trưởng và năm Phó Tổng Tham mưu trưởng đều đã ra đi.
Ngày hôm nay, 29/1/2026, người phát ngôn Bộ Quốc phòng Tầu cộng Tưởng Bân cho biết việc kiên quyết điều tra, xử lý Trương Hựu Hiệp và Lưu Chấn Lập là thành quả to lớn mà cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Tầu và quân đội Tầu cộng đạt được, có ý nghĩa quan trọng đối với việc giành thắng lợi trong trận đánh then chốt, trận đánh lâu dài và trận đánh tổng thể của công cuộc chống tham nhũng trong quân đội.

Ngày 28/11/25, Bộ Quốc phòng Tầu cộng xác nhận rằng ông Miêu Hoa (Miao Hua), Chủ nhiệm Bộ Công tác Chính trị Quân ủy Trung ương Tầu cộng, bị tình nghi phạm tội nghiêm trọng và đã bị đình chỉ công tác chờ điều tra. Nhưng phía Bắc Kinh phủ nhận thông tin truyền thông Anh, nói rằng Bộ trưởng Quốc phòng Đổng Quân (Dong Jun) không bị điều tra về tội tham nhũng.
Ngoại giới phân tích rằng sự kiện ông Miêu Hoa, người từng là thân tín của nhà lãnh đạo Tầu cộng Tập Cận Bình, bị đình chỉ, cho thấy sức mạnh quân đội của ông Tập bị suy yếu. Cuộc điều tra về Bộ trưởng Quốc phòng Đổng Quân có liên quan đến Miêu Hoa. Việc liên tiếp 3 Bộ trưởng quốc phòng Tầu cộng gặp rắc rối lớn trong thời gian gần đây càng làm nổi bật những thách thức mà ông Tập có thể gặp phải trong kế hoạch xâm chiếm Đài Loan vào năm 2027.

Theo nguồn tin không chính thức không thuộc cầm quyền Tầu cộng, những người yêu cầu được giấu tên vì lý do an toàn, sau cuộc thanh trừng Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trương Hựu Hiệp và Ủy viên Quân ủy Trung ương Lưu Chấn Lập, người đồng thời đứng đầu Bộ Tham mưu Liên hợp (cơ quan kế thừa Bộ Tổng Tham mưu trước cải cách quân đội năm 2016).
Các nguồn tin thân cận với các quan chức cấp cao của ĐCSTQ nói với The Epoch Times rằng hai ông này đã bị bí mật giam giữ và đặt trong tình trạng biệt lập hoàn toàn tại một địa điểm được canh phòng nghiêm ngặt ở quận Xương Bình, Bắc Kinh.

Nhiều nguồn tin cho biết đánh giá chính trị sơ bộ đối với hai ông này, không tập trung vào các vi phạm kỷ luật hay pháp luật thông thường, mà xoay quanh cáo buộc rằng họ tìm cách “chia rẽ Quân ủy Trung ương” — một tội danh trực tiếp thách thức Chủ tịch Quân ủy Trung ương và quyền chỉ huy tối cao của quân đội.

Trong bối cảnh của CCP, một cáo buộc như vậy đẩy vụ việc lên cấp độ chính trị cao nhất có thể.
Chủ tịch Quân ủy Trung ương hiện nay là lãnh đạo Tầu Tập Cận Bình.
Dấu hiệu của cuộc thanh trừng
Trong nội bộ CCP, những cáo buộc như “chia rẽ Đảng” hoặc “chia rẽ ban lãnh đạo trung ương” là cực kỳ hiếm hoi và chỉ dành cho những nhân vật bị coi là mối đe dọa thực chất đối với cấu trúc quyền lực cốt lõi. Những nhãn mác này thường không được nêu rõ trong các văn kiện công khai, nhưng lại mang sức nặng quyết định trong nội bộ. Ý nghĩa chính trị thực sự thường chỉ trở nên rõ ràng qua cách mà chế độ xử lý vụ việc sau đó.

Cách CCP đối xử với cựu Tổng Bí thư Triệu Tử Dương sau năm 1989, là một tiền lệ lịch sử cho kiểu phán xét chính trị mờ ám nhưng có hậu quả sâu rộng này. Ông Triệu Tử Dương từng được xem là một lãnh đạo cải cách trong CCP trước Thảm sát Quảng trường Thiên An Môn năm 1989, nhưng ông đã bị cách chức và quản thúc tại gia ngay trong năm đó cho đến khi qua đời vào năm 2005
Quân đội Tầu cộng được đặt trong tình trạng báo động cao
Một nguồn tin nội bộ quân đội Tầu cộng am hiểu tình hình nói với The Epoch Times rằng cách xử lý đối với Trương Hựu Hiệp và Lưu Chấn Lập đã gây chấn động khắp PLA.

Theo nguồn tin này, các sĩ quan trung và cao cấp tại nhiều đơn vị đã được lệnh "cấm quân", hủy nghỉ phép, dừng các kế hoạch di chuyển, và luôn trong trạng thái sẵn sàng. Đồng thời, hệ thống chỉ huy và tuyên truyền của quân đội cũng bị siết chặt, tạo ra bầu không khí căng thẳng cao độ.

Trương nằm ở tầm ảnh hưởng đặc biệt của ông ta trong quân đội. Là một cựu chiến binh của Chiến tranh Việt Nam – Tầu cộng năm 1979, Trương đã dành hàng chục năm để xây dựng các mạng lưới cá nhân dựa trên kinh nghiệm và thâm niên chung hơn là chỉ dựa vào quyền lực thể chế. Loại “quyền lực dựa trên uy tín” đó vẫn tồn tại ngay cả sau khi Tập củng cố quyền kiểm soát lực lượng vũ trang. Như vậy Trương là 1 trong những tướng linh hiếm hoi của Tầu cộng có kinh nghiêm chiến đấu trong thực chiến!

Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) có trụ sở ở Washington, gần đây đã đưa ra một báo cáo cho biết rằng năm 2025 sẽ đánh dấu 20 năm Trung Quốc ban hành Luật Chống ly khai và ĐCSTQ có thể sửa đổi luật vào thời điểm đó để cung cấp cơ sở pháp lý cho việc xâm chiếm Đài Loan. Mới đây, sau khi Bắc Kinh công bố cuộc tập trận quân sự “Liên hợp lợi kiếm 2024B” (“United Sword-2024B”) quanh Đài Loan, Tập Cận Bình đã tới tỉnh Phúc Kiến và nói về hội nhập xuyên eo biển.

Có nhiều phân tích từ ngoại giới cho rằng ông Tập đang tăng cường chuẩn bị tấn công Đài Loan. Vào tháng 2 năm ngoái, Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ CIA – ông William Burns – cho biết ông Tập Cận Bình đã ra lệnh cho quân đội chuẩn bị tấn công Đài Loan vào năm 2027, nhưng chưa quyết định thời điểm xâm lược.
Tập nhất quyết muốn hoàn thành một việc lớn, đó là thôn tính Đài Loan. Nguyên nhân ông có thể mở cuộc xâm lược Đài Loan chủ yếu dựa vào hai quân chủng lớn là Lực lượng Hoả tiễn và Hải quân. Tuy nhiên, có một hiện tượng rất thú vị, đó là khi ông Tập nắm quyền lực trong tay, ông lo ngại rằng Lực lượng hoả tiễn sẽ đe dọa vị trí quyền lực của mình, vì vậy ông đã thanh trừng quy mô lớn đối với lực lượng này. Không ngờ, do vấn đề quyền lực của chính mình, các đối thủ chính trị của ông đã lên nắm quyền, và lại tiếp tục thanh trừng những người thân tín và cốt cán của ông Tập, đặc biệt là trong hệ thống Hải quân.
Các tướng lĩnh cấp cao lần lượt ngã ngựa, kế hoạch xâm chiếm Đài Loan vào năm 2027 của Tập còn có thể thực hiện hay đang bị "bể dĩa"
Như vậy “Sau hai đợt thanh trừng này, tôi cho rằng sức mạnh của hai quân chủng này cốt lõi có thể không đủ khả năng để chuẩn bị cho cuộc tấn công Đài Loan trước năm 2027”, nói khác đi chuyện dánh chiếm Đài Loan theo ý muốn của Tập đã bể kế hoạch vì không còn có sự hiệp nhất đoàn kết quân - dân - chính!!!!


Cong Hinh Pham

Wednesday, January 28, 2026

THẮNG LÀM VUA THUA LÀM GIẶC!

Xi - Zhang diệt nhau đứa nào chết!

Những ngày gần đây một cơn bão ngầm khủng đã xẩy tại hàng ngũ lãnh đạo cấp cao của quân đội Tầu cộng (PLA) đang trong tình trạng khủng khoang rất nghiem trọng.
Vụ thanh trừng vị tướng quân đội cấp cao nhất của Tầu cộng, Trương Hựu Hiệp, Ủy viên Bộ Chính trị, cùng một tướng quân đội cấp cao khác là ông Lưu Chấn Lập, Ủy viên Quân ủy Trung ương, vào cuối tuần rồi đã đặt ra những câu hỏi nghiêm túc về nguyên nhân dẫn đến cuộc đấu đá quyền lực trong giới tinh hoa nước này.
Ông Trương Hựu Hiệp, 75 tuổi, là Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương (CMC) - cơ quan của Đảng Cộng sản Tầu cộng do độc chủ Tập đứng đầu, kiểm soát cả lực lượng quân đội.
CMC, thường gồm khoảng bảy người, nay chỉ còn lại hai thành viên - Tập Cận Bình và tướng Trương Thăng Dân, một điều mà các nhà quan sát nói là chưa từng có tiền lệ.
Tất cả những người khác đã bị hạ bệ trong chiến dịch "chống tham nhũng" sau các đợt bắt giữ trước đó.
Các gia tộc đỏ đang dấu đá chiếm quyền kiểm soát Tầu quốc!
Phần I: Các “gia tộc đỏ” sẽ chọn phe ra sao?
Cuộc đối đầu quyền lực giữa Tập Cận Bình và Trương Hựu Hiệp đã trở thành màn sinh tử quyết liệt, cân sức và nguy hiểm bậc nhất trong lịch sử nội bộ ĐCSTQ kể từ khi chế độ này được thành lập. Kết cục của nó không chỉ định hình tương lai chính trị Tầu cộng, mà thậm chí có thể trở thành giọt nước tràn ly làm sụp đổ toàn bộ cấu trúc quyền lực hiện nay của cộng đảng Tầu.
Chính vì vậy, từng diễn biến của cuộc đấu này đều cần được theo dõi sát sao, và mọi phán đoán đều phải điều chỉnh linh hoạt theo thực tế đang thay đổi từng ngày.
Tờ Wall Street Journal, thông qua các kênh truyền thông Đảng ở hải ngoại, đã chính thức gán cho Trương Hựu Hiệp tội danh “phản bội - đầu hàng – kẻ thù” – chiếc mũ quen thuộc mà nhiều ngưởi từng bị chụp mũ trong quá khứ nhất là cuộc đấu tranh đòi tự do dân chủ và minh bạch kinh tế tài chính của phong trào sinh viên học sinh gay ra cuộc thảm sát đẫm máu tai Thiên An Môn 1989.
Điều này cho thấy hai bên đã xé toang mọi lớp ngụy trang, cuộc chơi sinh tử “được ăn cả, ngã về không” chính thức bắt đầu.
Dư luận từng nhấn mạnh: lần này hoàn toàn khác với những đợt thanh trừng tướng lĩnh trước đây của Tập Cận Bình. Trước kia là “bắt gà con”, còn lần này là đâm lê đối đầu. Hai bên đều đã vào thế lưng dựa vực sâu, sẽ tung ra mọi lá bài có trong tay. Vì vậy, cuộc quyết đấu này mới chỉ ở hồi mở màn, phía trước còn vô số biến số, và hươu chết về tay ai vẫn chưa thể kết luận.
Những yếu tố then chốt quyết định cục diện Xi =/=Zhang
Bao gồm nhưng không giới hạn ở:
- Các gia tộc đỏ sẽ đứng về phía nào
- Ai thực sự kiểm soát súng đạn
- Dân ý cuối cùng nghiêng về bên nào
- Cục diện quốc tế biến động ra sao
- Và lựa chọn cuối cùng của Tổng thống Trump
Trong phần này, trước hết cần bàn về câu hỏi căn bản nhất: các gia tộc đỏ sẽ chọn phe thế nào?
Trên thực tế, Tầu cộng vẫn là một nhà nước do gia tộc đỏ kiểm soát. Những người khác, về bản chất, chỉ là nhân vật phụ. “Gia tộc đỏ” ở đây là các gia đình công thần thế hệ đầu lập quốc; các gia đình lãnh đạo các đời sau chỉ có thể xem là xếp sau.
Dưới đây là 10 gia tộc đỏ vẫn còn thực lực đáng kể (không tính gia tộc họ Tập):
1. Gia tộc Đặng Tiểu Bình
- Đại diện: Đặng Phác Phương
- Thực trạng: Ảnh hưởng suy giảm mạnh, nhưng uy thế “lão đại đỏ” vẫn còn dư âm
- Khả năng: Bất mãn với tập quyền cực đoan của Tập? Có âm thầm ủng hộ lực lượng phản Tập?
2. Gia tộc Trần Vân
- Đầu tàu: Trần Nguyên
- Thực trạng: Kiểm soát khối tài sản quốc khố khổng lồ, đại diện phe bảo thủ
- Khả năng: Khi kinh tế đứng bên bờ sụp đổ, lợi ích bị đụng chạm, liệu có quay xe?
3. Gia tộc Diệp Kiếm Anh
- Nhân vật then chốt: Diệp Tuyển Liêm
- Thực trạng: Quân đội – tình báo – “thái tử đỏ quân phương”
- Khả năng: Cùng hệ thống quân đội với Trương Hựu Hiệp, liệu có phản ứng trước đại thanh trừng?
4. Gia tộc Giang Trạch Dân
- Đại diện: Giang Miên Hằng
- Thực trạng: Nắm viễn thông, tài lực cực lớn, tàn dư “bè phái Thượng Hải”
- Khả năng: Có phản công bằng tài sản và hồ sơ nhạy cảm?
5. Gia tộc Vương Chấn
- Đầu tàu: Vương Chi
- Thực trạng: Đế chế quân công – vũ khí, gắn bó chặt với phe Giang
- Khả năng: Gia nhập liên minh phản Tập?
6. Gia tộc Diêu Y Lâm
- Nhân vật trung tâm: Vương Kỳ Sơn
- Thực trạng: Từng là đồng minh chống tham nhũng của Tập, nay bị gạt ra rìa
- Khả năng: Sự im lặng của Vương Kỳ Sơn là biến số lớn nhất – có tái xuất?
7. Gia tộc Tăng Khánh Hồng
- Đại diện: Tăng Khánh Hồng
- Thực trạng: “Trùm” Thượng Hải, kiểm soát mạng lưới tình báo, bị đàn áp nặng
- Khả năng: Tận dụng ảnh hưởng hải ngoại để lập mặt trận phản Tập?
8. Gia tộc Hồ Cẩm Đào
- Thực trạng: Hồ Cẩm Đào đã cao tuổi, nhưng “Đoàn phái” còn đông đảo
- Khả năng: Hồ Xuân Hoa hoặc tàn dư Đoàn phái phản công?
9. Gia tộc Ôn Gia Bảo
- Thực trạng: Hình ảnh tương đối tốt, gia tộc kinh doanh lớn
- Khả năng: Đóng vai “người phát ngôn dân ý” gây sức ép chính trị?
10. Gia tộc Lý Bằng
- Đại diện: Lý Tiểu Lâm
- Thực trạng: Đế chế điện lực, bị Tập đánh cho tơi tả
- Khả năng: Có tìm cơ hội trả đũa?
Lập trường của các gia tộc đỏ có ảnh hưởng, nhưng không mang tính quyết định tuyệt đối. Trong điều kiện chưa thấy rõ cửa thắng, đa số sẽ chọn tự bảo toàn và giả chết. Tuy nhiên, không loại trừ khả năng xuất hiện nhân tố hắc mã – ví dụ hậu duệ Lưu Thiếu Kỳ, hoặc con cháu Hồ–Triệu xuất hiện nhân vật có khí phách kiểu “Hạng Vũ”.
Tóm lại, đây là một cuộc đối đầu thực sự, chứ không phải thanh trừng một chiều. Tình thế có thể đảo ngược bất cứ lúc nào.
Đang rộ tin Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trương Hựu Hiệp, cùng Ủy viên Quân ủy Trung ương, Tham mưu trưởng Bộ Tham mưu Liên hợp Quân ủy Trung ương Lưu Chấn Lập bị nghi ngờ vi phạm kỷ luật và pháp luật nghiêm trọng.
Dẫu được ẩn dưới những ngôn ngữ chính trị nhưng giới quan sát đều hiểu rằng, sự nghiệp chính trị của Trương Hựu Hiệp và Lưu Chấn Lập đến đây là kết thúc, có thể trở về con số không, thậm chí là âm.
Về mối quan hệ giữa Tập Cận Bình (1953) và Trương Hựu Hiệp (1950) là một liên minh quyền lực vừa gắn bó vừa tiềm ẩn căng thẳng, phản ánh rất rõ cách Tập kiểm soát quân đội Tầu cộng (PLA).
Giai đoạn “đồng minh chiến lược” (2012–2017), khi Tập mới lên nắm quyền rất cần nhau để củng cố quyền lực. Cũng như Tập, Trương Hựu Hiệp là “thái tử đỏ” thứ thiệt. Cha là Trương Tông Tân, tướng khai quốc. Bản thân Trương từng tham chiến trong cuộc chiến tranh biên giới với Việt Nam (1979), có uy tín thực chiến hiếm hoi.
Khi Tập Cận Bình lên nắm quyền (2012), PLA vẫn chịu ảnh hưởng mạnh của Từ Tài Hậu, Quách Bá Hùng, đều là những vị có khả năng thao túng quân đội. Tập cần Trương làm điểm tựa để phá “quân đội phe cánh”, mở chiến dịch “chống tham nhũng”. Trong giai đoạn này, Trương là người của Tập, giúp Tập “đánh dọn sân”.
Đỉnh cao quyền lực của Trương nằm trong nhiệm kỳ 2 của Tập (2017–2022). Trương là trụ cột quân sự số 2 ở TQ. Trương được đưa vào Quân ủy Trung ương và là Phó Chủ tịch, phụ trách trang bị, công nghiệp quốc phòng, hiện đại hóa PLA. Trương trở thành nhân vật số 2, chỉ sau Tập. Nhưng cũng từ đây, vấn đề bắt đầu nảy sinh khi Trương quá “độc lập”, có mạng lưới riêng trong quân giới – hậu cần – công nghiệp quốc phòng.
Cha của Trương Hựu Hiệp là một đồng chí cách mạng của cha Tập Cận Bình. Tướng Trương có mối quan hệ lâu năm với ông Tập, và việc họ từng được coi là đồng minh thân cận trước những biến động gần đây có thể khiến tình hình tồi tệ hơn, bởi nảy sinh cảm giác rằng không ai được an toàn.
Trong khi Tập ngày càng đa nghi, muốn cá nhân hóa tuyệt đối quyền kiểm soát quân đội. Liên minh bắt đầu chuyển sang trạng thái cảnh giác lẫn nhau. Cần phải nói thêm, về bản chất chính trị, Tập là nhà lãnh đạo độc tài, cá nhân hóa quyền lực, nhưng không phải kiểu độc tài cảm tính, mà là độc tài có tính hệ thống, chiến lược và ý thức lịch sử rất rõ. Điều này giải thích vì sao Tập bắt tay vào thanh trừng ngầm, siết chặt, Trương bị “cô lập mềm”.
Theo nhiều nguồn tin không chính thức, rộ tin Hồ Cẩm Đào đã bị chết ngày 24/1/26 do bị thanh trừng và tiêu diệt vì đứng sau vụ âm mưu đảo chính dưới vỏ bọc y tế và quân đội vũ trang với xe tăng thiết giáp đang tín về bao vây thủ phủ Bách Kinh chưa rõ của phe nào Xi hay Zhang, và với mục đích gì!!!!?
Dưới chế độ dộc tài chuyến chế loại tin này đều đươc bưng bit kỹ lưỡng! Phải chờ xem cái "đại cục" ngả ngũ!!!!

Sunday, January 25, 2026

PHẦN THƯỞNG CHO SỰ PHẢN PHÚC!

TT DONALD J TRUMP SẼ ÁP THUẾ BIỂU 100% (TARIFF) CHO TẤT CẢ HÀNG HÓA CANADA NẾU KÝ THỎA HIỆP THƯƠNG MẠI VỚI GIÁN TẦU CỘNG

Tổng thống Donald Trump hôm thứ Bảy 24/1 tuyên bố có thể ký áp thuế suất100% đối với toàn bộ hàng hóa Canada nếu Ottawa thúc đẩy thỏa thuận thương mại với Tầu cộng. Trên Truth Social, ông cảnh báo Canada sẽ “lập tức” bị đánh thuế nếu ký kết với Bắc Kinh, cho rằng điều này biến Canada thành “cửa trung chuyển” cho Tầu cộng vào thị trường Mỹ.
Trước đó, Canada và Tầu cộng đạt thỏa thuận nguyên tắc nhằm giảm thuế và mở rộng tiếp cận thị trường, trong đó Tầu cộng dự kiến hạ thuế với một số nông sản Canada, còn Canada giảm thuế cho hạn ngạch xe điện Tầu cộng. Nhiều điều khoản có thể có hiệu lực từ tháng 3, vẫn chưa rõ tuyên bố của ông Trump áp dụng ngay hay gắn với mốc thời gian này.
Giới chuyên gia cảnh báo nếu Mỹ thực sự áp thuế 100%, lạm phát tại Mỹ sẽ tăng mạnh, do Canada là nguồn cung lớn về dầu thô, ô tô và linh kiện. Một số ý kiến cho rằng khả năng Washington thực thi biện pháp cực đoan này là thấp, nhất là với các mặt hàng năng lượng.
Trước đó, Mr. Trump từng dùng thuế quan làm đòn bẩy đối ngoại, bao gồm các động thái gây sức ép với châu Âu liên quan đến Greenland, dù sau đó đã hạ giọng.
Nếu Tổng thống Donald Trump thực sự áp thuế quan 100% lên toàn bộ hàng hóa Canada, nền kinh tế Canada sẽ đối mặt với một cú sốc cực lớn, mang tính hệ thống, thậm chí có thể đẩy đất nước này vào suy thoái sâu. Điều đó không phải là cường điệu, mà là hệ quả trực tiếp từ cấu trúc kinh tế của Canada qua những điểm quan trọng phái có!.
Điểm 1: Canada phụ thuộc sống còn vào thị trường Mỹ.
Gần 75% kim ngạch xuất khẩu của Canada đổ vào Mỹ. Không có thị trường nào khác có thể thay thế trong ngắn hạn. Khi hàng hóa bị đánh thuế 100%, phần lớn doanh nghiệp Canada mất hoàn toàn khả năng cạnh tranh, đặc biệt ở các ngành chủ lực như năng lượng, ô tô, linh kiện, gỗ, thép và nông sản. Hệ quả kéo theo là đóng cửa nhà máy, sa thải hàng loạt, và sụt giảm đầu tư nghiêm trọng.
Điểm 2: Đồng CAD sẽ lao dốc, lạm phát bùng nổ.
Thuế quan cao sẽ khiến xuất khẩu sụp đổ, dòng USD vào Canada suy giảm, đồng tiền mất giá mạnh. Trong khi đó, Canada vẫn phải nhập khẩu khối lượng lớn hàng tiêu dùng, máy móc, công nghệ — giá cả trong nước sẽ tăng vọt. Người dân chịu thiệt trực tiếp, sức mua co rút, kinh tế càng suy yếu.
Điểm 3: chuỗi cung ứng Bắc Mỹ bị phá vỡ — và Canada chịu đòn nặng hơn.
Mỹ có quy mô và khả năng xoay chuyển thị trường tốt hơn nhiều. Canada thì không. Trong các chuỗi sản xuất tích hợp (đặc biệt là ô tô và năng lượng), khi Mỹ “đóng cửa”, Canada là bên không có cửa thoát. Điều này có thể gây tổn thất lâu dài, không chỉ nhất thời.
Điểm 4: Không còn niềm tin chiến lược từ Washington.
Việc Canada xích lại gần Tầu cộng trong bối cảnh cạnh tranh địa chiến lược gay gắt là một sai lầm chiến lược. Đối với Mỹ, đây không chỉ là thương mại, mà là vấn đề an ninh quốc gia và chuỗi cung ứng chiến lược. Khi đã mất niềm tin, rất khó để khôi phục — dù sau này có đổi chính sách.
Vì những lý do đó, Canada cần phải thẳng thắn chấp nhận:
Thủ tướng Canada nên từ chức trước khi phá hỏng quan hệ sống còn với Mỹ và đẩy nền kinh tế Canada đến bờ sụp đổ hay sẽ khồn đốn vì sắc thuế 100% trê tất cả mọi hàng hóa.
Khi được hỏi vì sao Tổng thống Trump lại áp thuế nặng đối với Canada, Bộ Trưởng Bessent đã đảo ngược lập luận và chỉ rõ rằng Thủ tướng Canada Mark Carney mới là người tạo ra vấn đề. Ông cho biết Canada đã quay lại nới lỏng các mức thuế chuyên ngành đối với hàng hóa Tầu cộng, trong khi thị trường Hoa Kỳ và Canada có mức độ hội nhập cực kỳ cao, khiến rủi ro lan truyền là không thể xem nhẹ.
Theo Bộ Trưởng Bessent, việc Canada hạ thuế xe điện Tầu cộng từ mức 100% xuống chỉ còn 6% là một ví dụ điển hình. Trong thực tế sản xuất Bắc Mỹ, hàng hóa có thể qua lại biên giới nhiều lần trong cùng một chuỗi chế tạo. Điều này đồng nghĩa với việc hàng Tầu cộng giá rẻ có thể thâm nhập thị trường Hoa Kỳ thông qua Canada nếu không có hàng rào phòng vệ rõ ràng.
Ông Bessent nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ không thể cho phép Canada trở thành một khe hở để Tầu cộng tuồn hàng hóa vào Hoa Kỳ. Lập trường này, theo ông, hoàn toàn phù hợp với tinh thần của Hiệp định USMCA, vốn được thiết kế để bảo vệ chuỗi cung ứng khu vực và sẽ được tái thương lượng trong mùa Hè sắp tới.
Bộ Trưởng Tài Chánh Hoa Kỳ cũng bày tỏ nghi ngờ về định hướng của Thủ tướng Carney, cho rằng những hành động gần đây của ông mang nặng tính trình diễn với giới "toàn nhà cầu hóa" tại Davos hơn là phục vụ quyền lợi thiết thân của người dân Canada. Theo ông Bessent, chính sách này không chỉ gây tổn hại cho Canada mà còn trực tiếp đe dọa an ninh kinh tế của Hoa Kỳ.
Từ phía Tổng thống Trump, thông điệp được truyền tải nhất quán là Hoa Kỳ sẽ bảo vệ thị trường nội địa và chuỗi cung ứng Bắc Mỹ bằng các biện pháp thực chất, kể cả áp thuế mạnh tay nếu cần thiết. Bạch Ốc cho rằng đây không phải là trừng phạt đồng minh, mà là cưỡng hành trách nhiệm chiến lược trong một liên minh kinh tế gắn bó sâu sắc.
Những phát biểu của Bộ Trưởng Bessent đã làm rõ lập trường của chính quyền Tổng thống Trump rằng vấn đề cốt lõi không phải là thương mại song phương, mà là rủi ro chiến lược từ Tầu cộng. Trong bối cảnh đó, Canada đang bị đặt trước một lựa chọn khó khăn nhưng rõ ràng giữa việc duy trì sự phối hợp chặt chẽ với Hoa Kỳ hoặc tiếp tục theo đuổi các chính sách với Tầu cộng và chấp nhận hệ quả kinh tế nặng nề.
Bộ Trưởng Tài Chánh Hoa Kỳ Scott Bessent đã dứt khoát bác bỏ cách đặt vấn đề “chiến tranh thương mại” của truyền thông khi nói về lập trường cứng rắn của Tổng thống Trump đối với Canada.
Đây không còn là bất đồng chính sách thông thường, mà là một canh bạc nguy hiểm với tương lai quốc gia. Quan hệ Mỹ–Canada là trụ cột kinh tế, an ninh và địa chính trị của Canada trong hàng thập kỷ. Không một nhà lãnh đạo nào có quyền đem trụ cột đó ra đánh đổi vì những tính toán ngắn hạn hoặc ảo tưởng “cân bằng” giữa Washington và Bắc Kinh.
Nếu Canada không sớm qui thuận sửa chữa, cái kinh tế Canada sẽ rất khốn đốn!

Cong Hinh Pham

Saturday, January 17, 2026

UY LỰC NGA ĐẾ CHỈ CÒN CÁI MỒM LA LỐI

NGA ĐẾ CHỈ CÒN CÁI MỒM LA LỐI LẤY "LE" HỘT NHÂN NỔ TO NHƯ ORESHNIK RƠI NGAY BỆ PHÓNG
Sự bảo kê của Putin cho các chuyên chế lưu manh gục mặt xuống bùn sau chiến dịch quân sự xâm lược giết người cướp đất 22/2/22
Từ Syria đến Venezuela, Putin đã hứa hẹn quá nhiều nhưng thực hiện quá ít hay nói đúng là không có hoặc không còn năng lực bảo kê hay nói lịch sự hơn là "cường quốc" không cò sức để bảo trợ cho những bè đảng độc tài chuyên chế để sống còn!!
Từ khi Hoa Kỳ thực hiện một hành động quân sự chớp nhoáng chống lại Venezuela,” ngay tại dinh thự Maduro!
Bộ Ngoại giao Nga chỉ viết vào ngày 3 tháng 1 sau diễn biến, khi tin tức về chiến dịch của Mỹ nhắm vào nhiều cơ sở quân sự của Venezuela được công bố. “Diễn biến này vô cùng đáng lo ngại và đáng bị lên án.” Khi Nhà Trắng xác nhận rằng lực lượng đặc nhiệm Mỹ đã bắt giữ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro và vợ ông, Cilia Flores, và đưa họ đến New York để xét xử về tội buôn bán ma túy và các tội danh khác, Bộ Ngoại giao Nga tuyên bố rằng “chúng tôi mạnh mẽ kêu gọi giới lãnh đạo Mỹ xem xét lại lập trường của họ và thả tổng thống được bầu cử hợp pháp của một quốc gia có chủ quyền và vợ ông ta.”
Ngoài tuyên bố này, Moscow không làm gì đáng kể để giúp đỡ chế độ mà trước đây họ từng gọi là đối tác chiến lược quan trọng ở Mỹ Latinh. Chỉ mới bảy tháng trước, vào tháng Năm, Maduro và Tổng thống Nga Vladimir Putin đã gặp nhau tại Điện Kremlin để ký một hiệp ước về quan hệ đối tác và hợp tác chiến lược, trong đó nêu rõ Nga và Venezuela sẽ tăng cường quan hệ quân sự và củng cố khả năng tự vệ trước các thế lực thù địch bên ngoài. Tuy nhiên, người Nga đã không cảnh báo Maduro về chiến dịch của Mỹ hoặc bảo vệ ông trong cuộc đột kích; thay vào đó, họ chỉ đứng ngoài cuộc.
Sự bất lực của Điện Kremlin ở Venezuela theo một mô hình quen thuộc đã được thể hiện kể từ cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine bốn năm trước. Mải mê trong cuộc chiến kéo dài chống lại Kyiv, Moscow có rất ít nguồn lực để hỗ trợ các đối tác độc tài của mình.
Năm 2024, người Nga đã đứng ngoài cuộc khi chế độ của đồng minh lâu năm Bashar al-Assad sụp đổ ở Syria. Mùa hè năm ngoái, để đáp trả các cuộc tấn công của Mỹ và Israel nhằm vào Iran, một đối tác chiến lược khác, người Nga đã đề nghị làm trung gian hòa giải giữa các bên tham chiến nhưng không thể cung cấp thông tin tình báo hữu ích hoặc thiết bị phòng không có thể tạo ra sự khác biệt. Trong trường hợp của Venezuela, Moscow thậm chí còn làm được ít hơn chẳng làm được gì như những gì họ đã làm cho Damascus và Tehran trước đó.
Đối với Putin, cú sốc từ sự sụp đổ của Maduro đặc biệt là sự nhục nhã thảm hại. Mặc dù Venezuela từ lâu đã là gánh nặng cho ngân sách cầm quyền Nga do các khoản vay không thể thu hồi và các dự án dầu mỏ thua lỗ, nhưng ít nhất quốc gia này cũng mang lại một điểm tự hào nhất định: Moscow có thể tuyên bố đã giành được chỗ đứng ở sân sau của Hoa Kỳ.
Đối với các chế độ độc tài từ Myanmar đến Nicaragua, Điện Kremlin đã thúc đẩy luận điểm rằng Nga là một lá chắn mạnh mẽ chống lại một Hoa Kỳ hống hách. Việc lật đổ Maduro không chỉ khiến luận điệu này trở nên rỗng tuếch; nó còn nhấn mạnh thực tế rằng Venezuela chưa bao giờ là mục tiêu mà Moscow có thể đánh mất.
Năm 2000, Putin và Tt Venezuela Hugo Chávez, cả hai đều mới đắc cử, đã gặp nhau lần đầu tiên trong một phiên họp của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại New York. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Caracas và Moscow vẫn chủ yếu mang tính giao dịch và thực dụng—chứ không phải ý thức hệ—trong gần một thập kỷ. Khi Chávez bắt đầu theo đuổi đường lối dân túy, chống Mỹ, ông đang dư dả lợi nhuận từ dầu mỏ trong bối cảnh giá năng lượng toàn cầu tăng cao và đã mua vũ khí của Nga để thay thế trang thiết bị cũ kỹ của Mỹ do những người tiền nhiệm của ông mua. Điện Kremlin, mặc dù chưa cam kết về mặt tư tưởng đối đầu với phương Tây, đã lợi dụng chủ nghĩa chống Mỹ của Chávez để phát triển một thị trường vũ khí mới.
Mối quan hệ này càng sâu sắc hơn sau cuộc chiến tranh 5 ngày của Nga chống lại Georgia vào tháng 8 năm 2008, và bắt đầu chuyển sang hướng tư tưởng với sự thù địch chung đối với bá quyền của Mỹ. Moscow muốn các đối tác trên khắp thế giới công nhận các vùng ly khai Abkhazia và Nam Ossetia là các quốc gia độc lập và đã cử các quan chức cấp cao đến thuyết phục họ. Những nỗ lực ban đầu đã thất bại; quốc gia duy nhất đứng về phía Moscow ngay sau chiến tranh là Nicaragua, dưới thời Tổng thống Daniel Ortega. Nhưng sau đó, vào tháng 9 năm 2009, trong một chuyến thăm cấp nhà nước tới Moscow, Chávez tuyên bố rằng Venezuela cũng sẽ công nhận Abkhazia và Nam Ossetia. Đây chủ yếu là một thỏa thuận mang tính giao dịch, nhưng nó bắt đầu làm thay đổi cách tiếp cận của Điện Kremlin đối với Venezuela, không còn chỉ đơn thuần là chủ nghĩa thực dụng. Trong vòng vài ngày, Nga đã mở một hạn mức tín dụng trị giá 2,2 tỷ đô la cho Caracas để mua thiết bị quân sự của Nga, bất chấp việc chính quyền Venezuela có đủ doanh thu từ dầu mỏ để thanh toán bằng tiền mặt. Điện Kremlin cũng tuyên bố các khoản đầu tư lớn vào dầu mỏ Venezuela bởi một tập đoàn gồm năm công ty dầu mỏ lớn nhất của Nga. Ông Chávez gần đây đã quốc hữu hóa tài sản của hai công ty năng lượng của Mỹ, ExxonMobil và ConocoPhillips, và đang rất cần các đối tác kỹ thuật và đầu tư mới để phát triển các dự án đầy thách thức.
Moscow cũng ra tín hiệu rằng họ sẽ đầu tư vào nhiều dự án công nghiệp, cơ sở hạ tầng và xã hội khác nhau ở Venezuela, điều này sẽ giúp ông Chávez tăng cường sự nổi tiếng của mình và củng cố quyền lực của mình, vốn đã trở nên độc đoán hơn qua nhiều năm. Mặc dù chủ nghĩa chống Mỹ ngày càng trở thành động lực rõ rệt đằng sau mối quan hệ đối tác này, Moscow vẫn theo đuổi lợi ích riêng hợp lý của mình; sau một thời gian ngắn giảm sút sau cuộc Đại suy thoái năm 2008, giá dầu lại tăng lên, và các khoản đầu tư và cho vay của Nga dường như có thể phục hồi.
Điện Kremlin không thể giúp các đối tác độc tài của mình giải quyết những điểm yếu của chế độ họ.
Trong bốn năm qua, khả năng ảnh hưởng đến các sự kiện toàn cầu của Moscow đã bị suy nhược hơn nữa. Khi nguồn lực của đất nước bị tiêu hao bởi cái hố không đáy của cuộc chiến thất bại ở Ukraine. Cuộc chiến dù đã khiến chế độ Putin trở nên kiên quyết chuyên quyền hơn với nội bộ, vì cầm quyền đã dập tắt hầu hết mọi sự bất đồng chính kiến, nhưng nó cũng đã chuyển hướng tất cả thiết bị quân sự, nhân sự, tiền bạc và sự chú ý mà về lý thuyết có thể được sử dụng để hỗ trợ những người chuyên quyền như Maduro không còn có thể.
Cuối cùng, Nga sẽ bù đắp cho điểm yếu của mình với tư cách là một đối tác bằng cách quay trở lại thế mạnh quen thuộc của mình với vai trò chỉ còn là kẻ phá hoại hay dồng lõa với những kẻ ngấm ngầm phá hoại trật tự chính trị và an ninh thế giới như Tầu cộng chảng hạn!.
Sự bảo kê chuyên chế của Nga đế của Pu thành tàu hũ rữa! Bashar Syria đào tẩu Maduro Venezuela bị còng Khamenei sắp bi dân Iran xử tử
Nga ngày nay chỉ là con gấu hỗn cụp đuôi hay chỉ là con hổ giấy!
Còn lại là Nga đế, chỉ là một nước chuyên chế nhà bảo kê đồng lõa lưu manh Độc tài tồi tệ với những cam kết hổ giấy yểm thế nhất thế giới

Monday, August 25, 2025

CÁI MÍM CHI HÍP MẮT CỦA CON ĐIẾM CHÍNH TRỊ PUTIN!

 Tại sao Putin tên điếm chính trị thế giới híp mắt mỉm chi khi kết thúc thượng đỉnh Nga Mỹ?!!!


Nhà bình luận Boris Johnson mô tả là “sự kiện kinh tởm nhất trong toàn bộ lịch sử ngoại giao tầm thường đáng xấu hổ”, là cái hội nghị thượng đỉnh Alaska rất được mong đợi giữa tổng thống Mỹ và tên tội phạm chiến tranh lãnh đạo Nga đã kết thúc vào sáng thứ bảy tuần trước theo giờ Đông Úc. Các tuyên bố của Tổng thống Mỹ và Nga hề sau gần ba giờ thảo luận đã trở thành chủ đề phân tích sâu sắc kể từ đó vá nó chẳng có một kết quả như báo chí truyền thông đã đoán già đoán non.
Những sự kiện cuối tuần qua hình như cũng đã dập tắt mọi hy vọng mong manh mà người dân Ukraine và nhiều người châu Âu đặt vào ông Trump rằng ông có thể từ bỏ sự ngưỡng mộ dành cho Putin và bắt đầu ủng hộ Ukraine đạt được một nền hòa bình công bằng
Vladimir Putin con điếm chính trị đã thêm nhiều lời tâng bốc Donald Trump vào các bình luận của hắn. Hắn ta với câu hài rất vui khi hơm hĩnh củng cố quan điểm của Trump rằng cuộc chiến sẽ không xảy ra nếu Trump là tổng thống, hắn quỷ quyệt sủa rằng: “Tôi đã cố gắng thuyết phục người đồng cấp Mỹ trước đây rằng đó không phải là điểm không thể quay lại khi nói đến các hành động thù địch. Trump đã nói rằng nếu ông ấy là Tổng thống, sẽ không có chiến tranh… Tôi có thể xác nhận điều đó”. Putin cũng cố ý gài Trump khi nói về lịch sử chung của Mỹ và Nga và nói một cách ấm áp về Mỹ như một người hàng xóm.
Nhưng Nga không hề lùi bước trước các mục tiêu chính của cuộc chiến và cho thấy ông hoàn toàn hiểu rõ sự cương tuồng của Trump.
Thực tế rất rõ, bất chấp những lời xảo ngôn tâng bốc từ con điếm chính trị Putin, Nga đã không để Trump đạt được mục tiêu chính của mình trong cuộc họp – một lệnh ngừng bắn ở Ukraine.

Việc Trump sẽ phản ứng thế nào với sự coi thường này từ Putin, bất chấp sự thân thiện thể hiện trên đường băng ở Alaska, vẫn còn phải theo dõi tiếp.
Tuy nhiên, một vài vấn đề đã trở nên rõ ràng.
Cái tối hậu thư có vẻ ngây ngô của Trump đã bị hóa giải, dù Putin phải đến "chầu kiến" Mỹ tại Alaska!
Tên điếm Nga đã đến và rời hội nghị thượng đỉnh này với tư cách là người chiến thắng lớn nhất. Hắn cười tươi híp mắt khi đến và tỏ ra hân hoan khi đưa ra các bình luận đã chuẩn bị sau hội nghị. Hắn không bị buộc phải nhượng bộ bất cứ điều gì tại hội nghị. Hắn cũng rời khỏi lãnh thổ Mỹ mà không bị trừng phạt thêm chỉ với một cam kết từ Trump về việc tổ chức một cuộc họp tiếp theo, thậm chí có thể phải tham kiến hắn tại Moscow.
Truyền thông nhà nước Nga đã có một khoảng thời gian tuyệt vời để tuyên truyền cho cuộc xâm lược trên bàn cờ thượng đỉnh Trump Putin với những kết quả tích cực cho Nga từ hội nghị thượng đỉnh, bao gồm cả việc làm bẽ mặt những người lính Mỹ đã phải trải thảm đỏ cho tên trội phạm chiến tranh Putin.
Putin đã thành công trong việc kéo dài thời gian cho bất kỳ lệnh ngừng bắn hay giải pháp nào cho cuộc chiến. Điều này cho phép hắn ta tiếp tục các cuộc tấn công trên bộ và trên không chống lại Ukraine trong tương lai gần. Có lẽ tồi tệ nhất là Putin giờ đây hiểu rõ ràng rằng ông đã nắm rõ Trump. Và có lẽ một phần nụ cười lớn của ông khi rời hội nghị thượng đỉnh là Putin biết rằng phần còn lại của chúng ta cũng hiểu điều đó.
Sau hội nghị thượng đỉnh, Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelenskyy đã có một cuộc điện đàm dài với Trump. Zelenskyy mô tả cách tổng thống Mỹ đã nêu ra khả năng Mỹ tham gia “cam kết an ninh cho Ukraine”. Đây là một diễn biến mới vì chính quyền Trump trước đây đã phản đối các cam kết như vậy.
Mặc dù một số người có thể đánh giá rằng hội nghị thượng đỉnh Alaska là một thành công vì không có lãnh thổ Ukraine nào bị đổi chác cho cái hòa bình ngừ bắn bấp bênh, nhưng chỉ những người lạc quan nhất mới có thể đưa ra kết luận đó.
Các bài xã luận trên các báo Ukraine và các hãng tin khác trong 24 giờ qua đã đưa ra một cách giải thích “đâm sau lưng” về hội nghị thượng đỉnh.
Các sự kiện cuối tuần cũng đã dập tắt mọi hy vọng mong manh mà người Ukraine và nhiều người châu Âu từng có rằng Trump có thể thoát khỏi sự ngưỡng mộ Putin của mình và bắt đầu ủng hộ Ukraine đạt được một nền hòa bình công bằng. Đó giờ là một viễn cảnh gần như không thể tưởng tượng được.
Hình như Trump đã đánh giá thấp bản lãnh của con điếm chính trị Cẩm Linh!
Đây là diễn tiến 'thực tế' khách quan với những nhận xét cá nhân! Mọi kết quả hy vọng đều chưa đạt như kỳ vọng! Chưa hề nói ai thành công hay thất bai! Vâng hãy chờ hành động từ hai phía! Nhưng Pu đã giải tỏa cái tối hậu thư của Trump! Và phải chờ hành đông kế tiếp từ Ông Trump! Chưa ai biết?!!!
Và thượng đỉnh Mỹ Nga này đã chẳng thay đổi bất cứ điều gì ở Ukraine. Giao tranh vẫn tiếp diễn, và Nga tiếp tục các cuộc tấn công trên không vào Ukraine trong những đêm trước và sau các cuộc đàm phán ở Alaska.
Đó là lý do cụm từ "hình như" được xử dụng rất cẩn thân khi chưa sang tỏ và không chắc chắn về tình huống và kết quả xây ra sau TĐ Mỹ Nga theo kỳ vọng!. . .

CONG HINH PHAM

Sunday, August 24, 2025

NGA ĐANG MẤT DẦN HẾT ẢNH HƯỞNG TỪ CÁC NƯỚC "THUỘC QUYỀN CŨ"

Làm thế nào Mỹ và các đồng minh châu Âu của có thể giúp họ xa rời cuồng quyền Nga làm xói mòn ảnh hưởng của Moscow hôm nay!!!


Cuộc chiến toàn diện của Nga về Ukraine 22/2/2022 là một phần của một chiến dịch rộng lớn hơn để khôi phục một phạm vi ảnh hưởng trong Á-Âu thời hậu Xô Viết. Cuộc xâm lược năm 2022 đến như một cú sốc đối với nhiều nước láng giềng Nga ở Đông Âu, Nam Caucasus và Trung Á, xác nhận nỗi sợ hãi của họ rằng Nga vẫn là mối đe dọa đối với chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước họ. Tuy nhiên, vì cuộc chiến ở Ukraine là một sự chú ý lớn về sự chú ý và tài nguyên của Nga, nó cũng đã mang đến cho nhiều quốc gia này một cơ hội. Tận dụng sự phân tâm của Moscow, họ đã tăng cường sự hợp tác của họ với nhau, nuôi dưỡng và hợp tác sâu sắc bên ngoài khu vực, và nới lỏng một số trái phiếu buộc họ vào quyền bá chủ trước đây của họ.

Mặc dù nhiều chính phủ trong Nội vụ Á -Âu đã thận trọng về việc chỉ trích cuộc xâm lược của Nga, nhưng họ đang tạo ra sự thật trên mặt đất củng cố chủ quyền và độc lập của họ, một mục tiêu chính của chính sách Hoa Kỳ trong khu vực kể từ những năm 1990. Khi quân đội Nga, nhu cầu về vũ khí đã khiến Moscow không thể thực hiện xuất khẩu hứa hẹn, các quốc gia như Armenia đang chuyển sang các nhà cung cấp khác ở châu Âu và Ấn Độ; Các quốc gia khu vực khác đang mua vũ khí từ Thổ Nhĩ Kỳ và thậm chí cả Trung cộng. Và như Nga đã rút các lực lượng và thiết bị từ các căn cứ quân sự của mình ở Kavkaz và Trung Á để triển khai lại chúng đến Ukraine, các quốc gia ở cả hai nơi đang giải quyết các cuộc xung đột mà Nga đã khai thác từ lâu vì lợi ích của chính họ. Cải thiện sự hợp tác trong khu vực rộng lớn hơn cũng đang tạo ra các cơ hội mới để tăng cường kết nối thương mại và xây dựng các lựa chọn thay thế để vận chuyển qua Nga. Bằng cách giảm sự phụ thuộc mà một khi đã xác định mối quan hệ của họ với bá quyền trước đây, các quốc gia trong khu vực đã ngày càng có khả năng thu hút Nga (và các cường quốc khác) theo các điều khoản thuận lợi.

Tuy nhiên, nếu lịch sử là bất kỳ hướng dẫn nào, Moscow có thể đi đến độ dài cực độ để bảo tồn sự thống trị của khu vực. Vào năm 2014, trước cuộc xâm lược toàn diện của Ukraine, Nga đã sáp nhập Crimea và can thiệp vào khu vực Donbas; Trước đó, vào năm 2008, nó đã xâm chiếm Georgia. Ngày nay, Kremlin duy trì một quan điểm độc quyền về không chỉ Ukraine mà còn nhiều quốc gia khác. Ukraine và Belarus vẫn là những ưu tiên hàng đầu của Moscow, nhưng Kremlin cũng khao khát một loại tuyệt đối đối với Armenia, Azerbaijan, Georgia, Kazakhstan và Moldova và duy trì sự liên quan của hậu kỳ xa xôi hơn đối với phần còn lại của Trung Á. Khái niệm chính sách đối ngoại năm 2023 của Nga, tài liệu chiến lược phác thảo các thông số và ưu tiên đối với chính sách đối ngoại của Nga, đã hồi sinh thuật ngữ gần ở nước ngoài để mô tả các quốc gia này, chỉ ra các truyền thống thế kỷ của họ về quốc gia chung, phụ thuộc sâu sắc. Một khi cuộc chiến ở Ukraine kết thúc, Kremlin gần như chắc chắn sẽ tăng cường nỗ lực ép buộc các nước láng giềng khác tham gia các cơ quan đa phương do Nga hậu thuẫn, củng cố mối quan hệ kinh tế, áp dụng luật pháp theo phong cách Nga nhắm vào xã hội dân sự và chấp nhận sự hiện diện của quân đội và trí thông minh lớn hơn trên lãnh thổ của họ.

Nội thất Á -Âu có thể ngày càng được kết nối với nhau, hợp tác và thậm chí thực hiện các bước hướng tới hòa bình, nhưng nó cần phải tiếp tục di chuyển theo hướng này nếu đó là để chống lại những nỗ lực của người Nga trong tương lai để xác nhận lại thẩm quyền. Đó là lý do tại sao Hoa Kỳ, cùng với Liên minh châu Âu và các quốc gia như Ấn Độ, Israel, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và Vương quốc Anh, phải đầu tư mới vào cơ sở hạ tầng xuyên biên giới, chuỗi cung ứng, quốc phòng và tham gia ngoại giao bền vững để củng cố sự ổn định của khu vực. Các quốc gia trong khu vực sẽ tiếp tục tìm kiếm những cách riêng của họ để giảm sự phụ thuộc lịch sử của họ vào Moscow, nhưng Washington và các đối tác của họ sẽ giúp họ vượt qua quy mô.



Nước bước chân không

Russia trục lợi về sự chú ý và tài nguyên cho Ukraine ban đầu đã tạo ra một khoảng trống ở Kavkaz và Trung Á khuyến khích sự bất ổn và xung đột lớn hơn. Trong mùa thu năm 2022, căng thẳng xuyên biên giới giữa Armenia và Azerbaijan và giữa Kyrgyzstan và Tajikistan bùng lên dữ dội. Mặc dù Nga trước đây là nhà môi giới chính giữ cho những xung đột này không được mở rộng, nhưng không có gì phải làm như vậy vào lúc đó, vì nó đang bận rộn rút lực lượng ra khỏi cả Kavkaz và Trung Á để lên bờ ở Ukraine.

Moscow không có khả năng can thiệp theo một cách đáng kể ban đầu cho phép các cuộc đụng độ biên giới Kyrgyz-Tajik chạy dài ở Thung lũng Fergana leo thang. Các cuộc đụng độ đã khiến hơn 100 người chết, bao gồm ít nhất 37 thường dân và hơn 10.000 người phải di dời trước khi Petering ra ngoài. Nhưng sau đó, sự vắng mặt của Moscow đã tỏ ra có lợi. Hai quốc gia lãnh đạo, các nhà lãnh đạo đã cố tình đàm phán mà không có Nga tại bàn đàm phán. Đầu năm nay, Kyrgyzstan và Tajikistan đã hoàn tất thỏa thuận giải quyết tranh chấp biên giới tại Thung lũng Fergana. Thỏa thuận này đã dẫn đến hội nghị thượng đỉnh đầu tiên của các nhà lãnh đạo Kyrgyzstan, Tajikistan và Uzbekistan, được tổ chức vào tháng 3 năm 2025 tại Khujand, Tajikistan, để thảo luận về việc tăng cường hợp tác trên lãnh thổ mà cả ba nước cùng chia sẻ.

Tình hình ở Nam Kavkaz trở nên căng thẳng hơn so với tình hình ở biên giới Kyrgyzstan-Tajik. Sau cuộc xâm lược toàn diện Ukraine, Nga đã rút một số lực lượng gìn giữ hòa bình mà họ đã triển khai tới Armenia theo các điều khoản của lệnh ngừng bắn Armenia-Azerbaijan năm 2020 và từ chối nhiều lần yêu cầu hỗ trợ quân sự từ Armenia, một thành viên của Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể, một khối an ninh khu vực trên danh nghĩa cam kết bảo vệ các thành viên khỏi bị tấn công. Azerbaijan, với hy vọng rằng Nga sẽ đứng ngoài cuộc, đã xâm lược những gì còn lại của Nagorno-Karabakh do Armenia chiếm đóng vào mùa xuân năm 2023. Trong cuộc tấn công, lực lượng Azerbaijan thậm chí còn nổ súng vào lực lượng gìn giữ hòa bình của Nga. Baku cuối cùng đã tái chiếm hoàn toàn Nagorno-Karabakh và giải tán nhà nước ly khai do người Armenia cai trị tại đó. Hầu như toàn bộ cư dân gốc Armenia trong khu vực đã bỏ trốn.

Sự sụp đổ của Nagorno-Karabakh đã định hình lại sâu sắc địa chính trị của khu vực. Lực lượng gìn giữ hòa bình Nga còn lại đã rời đi, và Baku cùng Yerevan bắt đầu quá trình hòa bình đầy khó khăn. Các nhà đàm phán Armenia và Azerbaijan hiện đã gặp nhau nhiều lần, và vào tháng 3, họ đã công bố một thỏa thuận về văn bản hiệp ước hòa bình nhằm bình thường hóa quan hệ và giải quyết các yêu sách lãnh thổ xung đột. Hiệp ước này cũng sẽ phê chuẩn việc lực lượng gìn giữ hòa bình nước ngoài rời đi, nhằm ngăn chặn những nỗ lực tái triển khai lực lượng của Nga trong tương lai. Mặc dù thỏa thuận vẫn chưa được ký kết và vẫn có thể thất bại, nhưng những tiến triển đạt được cho đến nay là rất đáng khích lệ.

Cả các cuộc đàm phán Armenia-Azerbaijan và Kyrgyzstan-Tajik đều diễn ra mà không có sự trung gian từ Moscow. Chiến lược của Điện Kremlin nhằm giành ảnh hưởng trong khu vực từ lâu đã bao gồm việc quản lý xung đột giữa các nước láng giềng nhỏ hơn để duy trì sự phụ thuộc của họ; Có một câu chuyện cười cũ rằng trong cuộc xung đột giữa Armenia và Azerbaijan, bên được Nga ủng hộ luôn là bên tham chiến. Nhưng với sự vắng mặt của Moscow, những đột phá ngoại giao đã trở nên khả thi. Các quốc gia Á-Âu hậu Xô Viết đã chủ động hơn, lựa chọn hợp tác và nhận thấy mình có khả năng tự giải quyết các tranh chấp của riêng mình.

LẤP ĐẦY KHOẢNG TRỐNG

Cuộc chiến ở Ukraine cũng tạo ra không gian cho các quốc gia khác can dự vào phạm vi ảnh hưởng truyền thống của Nga. Mặc dù hầu hết các quốc gia này đều có quan hệ tốt đẹp với Nga và không tuyên bố đang cố gắng cân bằng với Moscow, nhưng việc nội bộ Á-Âu ngày càng kết nối với thế giới rộng lớn hơn đã củng cố sự độc lập của các quốc gia nhỏ hơn khỏi quyền lực của Nga. Ví dụ, Armenia đã tìm cách chấm dứt sự phụ thuộc vào vũ khí Nga bằng cách mua các hệ thống mới từ Pháp và Ấn Độ (lựa chọn Ấn Độ, một phần, để cân bằng sự ủng hộ của Pakistan dành cho Azerbaijan); Yerevan đã mua 1,5 tỷ đô la vũ khí Ấn Độ chỉ riêng trong giai đoạn 2022-2023. Ả Rập Xê Út và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đang đầu tư vào năng lượng xanh và nông nghiệp tại Azerbaijan, và một công ty của Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất đã thực hiện khoản đầu tư bất động sản lớn nhất trong lịch sử Gruzia vào tháng 1. EU đã thông qua chiến lược Trung Á đầu tiên vào năm 2022 và hiện là nguồn đầu tư nước ngoài lớn nhất của khu vực.

Ngoại trừ Nga, quốc gia nổi bật nhất, đặc biệt là ở Trung Á, là Trung cộng. Thương mại của Trung cộng với năm quốc gia Trung Á đã tăng từ 89,4 tỷ đô la năm 2023 lên 94,8 tỷ đô la năm 2024, gấp hơn hai lần giá trị thương mại của các quốc gia này với Nga. Trung cộng cũng đang thúc đẩy đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng quan trọng, bao gồm đường ống dẫn khí đốt từ Turkmenistan qua phần còn lại của Trung Á và tuyến đường sắt từ thành phố Kashgar ở tỉnh Tân Cương của Trung cộng đến Andijon, Uzbekistan. Năm ngoái, một liên doanh Trung cộng -Singapore đã thắng thầu xây dựng một cảng container nước sâu mới tại Anaklia, Georgia, sau khi Tbilisi hủy bỏ thỏa thuận trước đó với một liên doanh Hoa Kỳ-Gruzia. Trung Á đã nhanh chóng trở thành một thị trường quan trọng đối với các nhà sản xuất ô tô Trung cộng, đặc biệt là các nhà sản xuất xe điện.

Bên cạnh sự hiện diện kinh tế ngày càng tăng, Bắc Kinh cũng đang âm thầm mở rộng dấu ấn an ninh của mình. Quan hệ an ninh đã tiến triển mạnh mẽ nhất ở Tajikistan, nơi Bắc Kinh đã triển khai lực lượng Cảnh sát Vũ trang Nhân dân, lực lượng bán quân sự chủ lực của Trung cộng, dọc biên giới với Afghanistan; Trung Quốc cũng bán vũ khí và thiết bị cho quốc gia này và tham gia các cuộc huấn luyện và tập trận chung với các đối tác Tajikistan. Các quốc gia Trung Á khác đã ký kết các thỏa thuận mua hệ thống phòng không của Trung Quốc, và theo các quan chức quốc phòng tại Tashkent, Uzbekistan sắp hoàn tất thỏa thuận mua máy bay chiến đấu do Trung cộng và Pakistan sản xuất.

Các nước Á-Âu hậu Xô Viết đang tìm cách giảm bớt sự phụ thuộc lâu đời vào Moscow.

Sự hiện diện ngày càng tăng của Trung cộng ở nội địa Á-Âu có thể gây lo ngại tại Washington đang tìm cách trao đổi ảnh hưởng của Nga lấy Trung cộng. Tuy nhiên, điều này thực sự giúp bảo vệ các quốc gia trong khu vực trước mối đe dọa trực tiếp hơn từ một nước Nga muốn trả thù. Ví dụ, cảng Anaklia có thể tăng cường đáng kể thương mại của Gruzia không chỉ với Trung cộng mà còn với các đối tác khác, giảm sự phụ thuộc kinh tế của nước này vào Nga. Và mặc dù có mối quan hệ chặt chẽ với Moscow, Bắc Kinh đã tuyên bố rõ ràng rằng họ phản đối các hoạt động của Nga có thể gây tổn hại đến lợi ích kinh tế của mình, bao gồm cả các mối đe dọa đối với chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đối tác thương mại.

Một thế lực khác trong khu vực là Thổ Nhĩ Kỳ, một thành viên NATO. Theo chỉ thị của Ankara, Tổ chức các quốc gia Turkic - một tổ chức ban đầu được thành lập để thúc đẩy mối quan hệ văn hóa giữa Thổ Nhĩ Kỳ, Azerbaijan và các quốc gia nói tiếng Turkic ở Trung Á - đang ngày càng thúc đẩy hợp tác năng lượng xuyên biển Caspi, bao gồm một dự án tiềm năng xuất khẩu khí đốt tự nhiên Turkmenistan sang châu Âu và một dự án khác nhằm cùng đầu tư vào năng lực sản xuất mới ở cả hai bờ Biển Caspi. Sự hỗ trợ của Thổ Nhĩ Kỳ trong việc hiện đại hóa quân đội Azerbaijan đã đóng vai trò quan trọng trong chiến thắng của nước này trước Armenia (trên danh nghĩa) được Nga hậu thuẫn vào cả năm 2020 và 2023. Những chiến thắng vang dội của Azerbaijan đã thu hút sự chú ý đáng kể trên toàn khu vực. Chúng là bằng chứng cho thấy một quân đội di sản Liên Xô có thể được tái thiết theo đường lối phương Tây và sau đó giành chiến thắng trong chiến tranh. Với sự hỗ trợ của Thổ Nhĩ Kỳ, các quốc gia khác trong khu vực cũng có thể thúc đẩy thay đổi thể chế và văn hóa trong quân đội của họ và phát triển theo đường lối của NATO.

Đối với nhiều quốc gia, chiến thắng của Azerbaijan cũng đã khơi dậy sự quan tâm mới đối với công nghệ quốc phòng của Thổ Nhĩ Kỳ. Tất cả các quốc gia Trung Á, ngoại trừ Tajikistan, hiện đã mua máy bay không người lái của Thổ Nhĩ Kỳ, và mùa thu năm ngoái, nhà sản xuất máy bay không người lái Baykar của Thổ Nhĩ Kỳ đã đồng ý thành lập một cơ sở sản xuất tại Kazakhstan. Ankara cũng đang theo đuổi các hình thức hợp tác an ninh khác với các quốc gia này, bao gồm đào tạo, cố vấn, tập trận chung và cung cấp giáo dục quân sự chuyên nghiệp. Ngay cả ở Armenia, quốc gia có mối quan hệ lịch sử căng thẳng với Thổ Nhĩ Kỳ, một số quan chức cấp cao đang cân nhắc hợp tác quốc phòng với Ankara sau khi một hiệp định hòa bình với Azerbaijan được ký kết. Bằng cách bình thường hóa quan hệ, mở cửa biên giới Thổ Nhĩ Kỳ-Armenia vốn đã đóng cửa từ lâu, và mở ra cơ hội đầu tư lớn hơn từ Thổ Nhĩ Kỳ, một thỏa thuận hòa bình Armenia-Azerbaijan có thể tăng cường đáng kể ảnh hưởng của Thổ Nhĩ Kỳ tại Nam Kavkaz—đây là một lý do khiến Moscow hiện có thể đang gây hấn với cả Tổng thống Azerbaijan Ilham Aliyev (sau vụ không quân Nga vô tình bắn hạ một máy bay phản lực của Azerbaijan) và Thủ tướng Armenia Nikol Pashinyan (về cáo buộc Nga hỗ trợ một âm mưu đảo chính tiềm tàng) để ngăn chặn một thỏa thuận cuối cùng.

MẠNG LƯỚI MỚI

Các mô hình thương mại và vận chuyển mới cũng đã xuất hiện để kết nối nội địa Á-Âu với các thị trường toàn cầu. Tương tự như việc xây dựng đường ống dẫn dầu Baku-Tbilisi-Ceyhan và đường ống dẫn khí đốt Baku-Tbilisi-Erzurum vào đầu những năm 2000, việc mở rộng các đường ống dẫn dầu, đường sắt và đường bộ Đông-Tây trong thập kỷ qua đã mang lại cho các quốc gia nhỏ hơn ở Kavkaz và Trung Á thêm nguồn thu từ phí vận chuyển và mở ra thị trường mới cho các nhà xuất khẩu năng lượng trong khu vực. Nguồn thu nhập và khả năng tiếp cận thị trường này giúp giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế các nước này vào Nga. Phần lớn sáng kiến ​​xây dựng cơ sở hạ tầng mới đến từ các quốc gia ở Kavkaz và Trung Á. Sau khi Moscow liên tục can thiệp vào các chuyến hàng dầu của Kazakhstan qua đường ống Tengiz-Novorossiysk để bày tỏ sự bất bình với những chỉ trích của Astana về cuộc xâm lược Ukraine, Kazakhstan đã bắt đầu vận chuyển thêm dầu sang châu Âu thông qua đường ống Baku-Tbilisi-Ceyhan, bỏ qua Nga. Washington và Brussels đã hỗ trợ mạnh mẽ về chính trị và kinh tế cho việc xây dựng tuyến đường này, được khánh thành vào năm 2006. Vào tháng 3 năm 2024, Kazakhstan đã ký một thỏa thuận mới với Azerbaijan để mở rộng hơn nữa việc giao hàng qua đường ống.

Việc châu Âu chuyển hướng khỏi khí đốt tự nhiên của Nga sau năm 2022 có thể là một lợi ích nữa cho các nhà sản xuất và các quốc gia trung chuyển trong khu vực. Vào tháng 7 năm 2022, Chủ tịch Ủy ban Châu Âu Ursula von der Leyen và Aliyev đã ký một biên bản ghi nhớ nhằm tăng gấp đôi lượng khí đốt xuất khẩu của Azerbaijan sang EU. Turkmenistan kể từ đó đã đồng ý về nguyên tắc vận chuyển khí đốt đến châu Âu thông qua Azerbaijan và Thổ Nhĩ Kỳ - được hỗ trợ bởi một thỏa thuận năm 2021 giữa Baku và Ashgabat nhằm giải quyết những bất đồng về việc chia sẻ tài nguyên biển Caspi. Các công ty và chính phủ châu Âu cũng đang xem khu vực này như một nguồn năng lượng xanh tiềm năng, đặc biệt là Azerbaijan đang thúc đẩy phát triển năng lực điện mặt trời và điện gió để giảm sự phụ thuộc vào xuất khẩu dầu khí.

Sáng kiến ​​vận chuyển mới quan trọng nhất có thể là Hành lang Trung tâm, một tuyến đường được khánh thành vào năm 2013 bởi các công ty vận tải từ Azerbaijan, Georgia và Kazakhstan, kết nối Trung Quốc với châu Âu qua Kazakhstan, Biển Caspi và Kavkaz. Nền kinh tế đầy thách thức, thiếu cơ sở hạ tầng, và các tranh chấp nội vùng từ lâu đã làm chậm sự phát triển dọc theo tuyến đường này; phần lớn hoạt động thương mại xuyên lục địa diễn ra đều đi qua Hành lang phía Bắc của Nga, nơi có cơ sở hạ tầng đã hoàn thiện và ít cửa khẩu biên giới. Tuy nhiên, với việc phương Tây áp đặt các lệnh trừng phạt đối với Nga và việc nhiều công ty nước ngoài rời khỏi nước này sau năm 2022, lượng hàng hóa vận chuyển qua Hành lang phía Bắc đã giảm mạnh, trong khi khối lượng thương mại dọc theo Hành lang giữa đã tăng đáng kể. Theo Ngân hàng Phát triển Châu Á, số lượng tàu container của Trung Quốc đi qua Hành lang giữa đã tăng gấp 33 lần từ năm 2023 đến năm 2024, trong khi khối lượng hàng hóa được xử lý bởi các cảng biển Caspi của Azerbaijan và Kazakhstan tăng 21%. Để đạt được tiềm năng đầy đủ, Hành lang giữa cần nhiều đầu tư hơn để nới lỏng các nút thắt và đơn giản hóa các quy định. Trong Hội nghị thượng đỉnh EU-Trung Á tại Samarkand, Uzbekistan, vào tháng 4, Brussels đã cam kết thêm 10 tỷ euro như một phần của Sáng kiến ​​Cổng kết nối Toàn cầu nhằm tăng cường kết nối khu vực. Trong khi đó, các cuộc tấn công của Houthi vào tuyến đường vận chuyển trên Biển Đỏ, việc chính quyền Taliban tuyên bố quan tâm đến việc mở cửa Afghanistan cho đầu tư nước ngoài, và sự bất ổn lâu dài về Nga, tất cả đều đang củng cố sự quan tâm đến tuyến đường này. Tuy nhiên, nếu các quốc gia phương Tây bắt đầu dỡ bỏ lệnh trừng phạt đối với Nga sau thỏa thuận ngừng bắn ở Ukraine, và nếu việc vận chuyển qua Nga trở nên ít rủi ro hơn, các chính phủ và ngân hàng phát triển có thể sẽ ít có xu hướng hành động hơn.

CÓ LỢI ÍCH CHO CẢ HAI BÊN

Không một diễn biến nào trong số này cho thấy Nga sẽ không còn là một nhân tố chủ chốt trong phạm vi ảnh hưởng truyền thống của mình. Nhờ vị trí địa lý gần gũi, sự quen thuộc giữa giới tinh hoa, và di sản lâu dài của sự thống trị của đế quốc và Liên Xô, Nga vẫn duy trì được quyền lực cứng và mềm đáng kể trên khắp Kavkaz và Trung Á. Lãnh đạo của hầu hết các quốc gia trong khu vực đều coi trọng mối quan hệ tốt đẹp với Moscow, ngay cả khi họ phản đối cuộc xâm lược Ukraine. Nhiều quốc gia trong số này đã được hưởng lợi từ những nỗ lực của Nga nhằm né tránh các lệnh trừng phạt của phương Tây kể từ tháng 2 năm 2022. Chính phủ Hoa Kỳ và châu Âu đã trừng phạt hàng chục công ty trong khu vực vì tạo điều kiện cho việc xuất khẩu các mặt hàng lưỡng dụng sang Nga. Ở nhiều quốc gia Á-Âu hậu Xô Viết, kiều hối từ lao động nhập cư làm việc tại Nga mang lại nguồn thu quan trọng, cũng như là một nguồn đòn bẩy cho Nga, ngay cả sau khi Nga bắt đầu trấn áp nạn di cư bất hợp pháp sau vụ tấn công khủng bố vào tháng 3 năm 2024 tại một địa điểm tổ chức hòa nhạc ở Moscow.

Ảnh hưởng chính trị của Nga vẫn còn. Putin thường xuyên gặp gỡ Aliyev, Tổng thống Kazakhstan Kassym-Jomart Tokayev và các nhà lãnh đạo khác (và đôi khi là con cái của các nhà lãnh đạo đang được chuẩn bị để kế nhiệm). Điện Kremlin đã củng cố quyền bảo hộ trên thực tế của mình tại Belarus và thúc đẩy mối quan hệ chặt chẽ với các chính trị gia trong đảng cầm quyền Georgia, Giấc mơ Georgia, và phe đối lập Moldova. Năm ngoái, trong một sự thay đổi mạnh mẽ trong định hướng chính trị của Tbilisi, Giấc mơ Georgia đã thông qua một đạo luật lấy cảm hứng từ Nga, đàn áp xã hội dân sự và đình chỉ các cuộc đàm phán gia nhập EU. Số phận của Moldova cũng đang trong thế cân bằng, với một ứng cử viên được Moscow hậu thuẫn đã thua sít sao trong cuộc bầu cử tổng thống năm ngoái và các nhóm được Nga hậu thuẫn đang tìm cách đoàn kết trước cuộc bầu cử quốc hội dự kiến ​​diễn ra vào tháng 9 này. Nga không những không bị loại khỏi cơ sở hạ tầng vận tải mới nổi của khu vực, mà còn đang tham gia và hưởng lợi từ những cấu trúc mới này. Ví dụ, ngay cả khi Kazakhstan tìm cách xuất khẩu nhiều hydrocarbon hơn sang châu Âu, chính phủ đã trao hợp đồng xây dựng nhà máy điện hạt nhân đầu tiên của Kazakhstan cho công ty nhà nước Rosatom của Nga vào tháng 6. Nga đang hợp tác với Azerbaijan và Iran để xây dựng Hành lang Vận tải Quốc tế Bắc-Nam - một tuyến đường bộ, đường sắt và đường biển sẽ kết nối Nga với Ấn Độ Dương thông qua Azerbaijan, Ấn Độ và Iran, không quốc gia nào trong số này trừng phạt Moscow vì cuộc xâm lược Ukraine. Vị trí trung tâm của Azerbaijan đối với cả tuyến đường này và Hành lang Giữa cho thấy cách tiếp cận của nhiều quốc gia. Thay vì đứng về phe nào trong cuộc đối đầu giữa Nga và phương Tây, họ đặt mục tiêu nắm bắt những cơ hội mà cuộc cạnh tranh này mang lại. CÙNG THẮNG

Trong bài phát biểu năm 1997 tại Đại học Johns Hopkins, Thứ trưởng Ngoại giao Strobe Talbott khi đó đã lập luận rằng Hoa Kỳ muốn "thấy tất cả các bên có trách nhiệm ở Kavkaz và Trung Á đều là người chiến thắng" thay vì để khu vực này trở thành đối tượng tranh giành quyền lực giữa các cường quốc như trong Ván Cờ Lớn thế kỷ 19. Những diễn biến trong hơn ba năm qua đã đưa khu vực Á-Âu hậu Xô Viết tiến gần hơn đến việc hiện thực hóa tầm nhìn đó, ngay cả khi thế giới (và Hoa Kỳ) đã thay đổi đáng kể.

Ngày nay, Kavkaz và Trung Á vẫn nằm ngoài chiến lược của Hoa Kỳ, đặc biệt là khi Washington chuyển hướng sang Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và Tổng thống Donald Trump dường như cởi mở với các phạm vi ảnh hưởng của các cường quốc. Tuy nhiên, chính quyền Trump đã dành một số sự quan tâm chú ý đến khu vực; ví dụ, trong bối cảnh các cuộc đàm phán Armenia-Azerbaijan trong tháng này, Đại sứ Hoa Kỳ tại Thổ Nhĩ Kỳ Tom Barrack đã đề xuất một công ty tư nhân của Hoa Kỳ vận hành tuyến đường nối liền đất liền Azerbaijan với vùng đất tách biệt Nakhichevan của nước này qua Armenia. Ý tưởng về một bên thứ ba trung lập giám sát tuyến đường này đã được thảo luận trong các vòng đàm phán trước đó, nhưng tuyên bố của Barrack là lần đầu tiên một quan chức Hoa Kỳ đề xuất Washington có thể đóng một vai trò. Một chiến lược khu vực toàn diện hơn có thể giúp chính quyền tiếp cận các nguồn năng lượng và kiểm soát các đối thủ cường quốc mà không gây áp lực quá mức cho Hoa Kỳ với những cam kết mới.

Chắc chắn, Hoa Kỳ khó có thể đóng vai trò trung tâm trong các diễn biến ở nội địa Á-Âu. Nhưng Hoa Kỳ có thể và nên khuyến khích EU, Thổ Nhĩ Kỳ và các đồng minh và đối tác khác duy trì sự hiện diện tích cực ở khu vực này. Hơn nữa, Washington có thể thúc đẩy các nỗ lực đang được tiến hành. Hoa Kỳ nên kín đáo khuyến khích các chính phủ ở Nam Kavkaz và Trung Á theo đuổi sự phối hợp khu vực chặt chẽ hơn. Hoa Kỳ có thể đóng góp vào việc đàm phán khu vực nếu được yêu cầu, nhưng nếu không, nên để các chủ thể địa phương dẫn dắt. Hoa Kỳ cũng có thể hợp tác với các nước trong khu vực để giảm bớt rào cản thương mại và tạo điều kiện cho các công ty phương Tây, bao gồm cả các công ty Mỹ, tham gia vào các dự án năng lượng mới, cơ sở hạ tầng và khoáng sản quan trọng. Các thỏa thuận thương mại và đầu tư như vậy nên là trọng tâm của hội nghị bộ trưởng C5+1 sắp tới, một cuộc họp thường niên của các bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ và Trung Á được tổ chức kể từ năm 2015. Hội nghị thượng đỉnh C5+1 của các tổng thống mới chỉ được tổ chức một lần, vào năm 2023; chính quyền Trump nên đảm nhận trọng trách triệu tập một hội nghị khác.

Trên hết, Hoa Kỳ phải thừa nhận rằng họ có chung một mục tiêu quan trọng với các quốc gia trong lục địa Á-Âu. Hệ thống chính trị trong nước của họ có thể không phải tất cả đều theo ý muốn của Washington, và nhiều nước trong số họ sẽ muốn có quan hệ hiệu quả với Moscow, Bắc Kinh hoặc Tehran. Do vị trí địa lý của họ, họ có rất ít lựa chọn. Nhưng các quốc gia này và người dân của họ cũng sẽ phản đối những nỗ lực của Điện Kremlin nhằm đưa họ vào một phạm vi ảnh hưởng được tái lập của Nga. Đối với Hoa Kỳ, việc ngăn chặn sự thống trị của Nga hoặc các cường quốc xét lại khác trong khu vực đồng nghĩa với việc ủng hộ các nước Á-Âu hậu Xô Viết theo đuổi các mối quan hệ kinh tế và chính trị đa dạng. Mặc dù những nỗ lực này không phải lúc nào cũng diễn ra theo ý muốn của Washington, nhưng những đóng góp của họ cho một khu vực tự do và cởi mở hơn lại phù hợp với lợi ích chiến lược của Washington.

Cong Hinh Pham


Sunday, March 23, 2025

Người dân Mỹ có muốn chiến tranh chống Trung cộng không?

Công chúng chia rẽ nghĩ gì về cuộc xung đột này

Alexandra Chinchilla, Paul Poast và Dan Reiter Ngày 20 tháng 3 năm 2025



             U.S. fighter jets on an aircraft carrier in Busan, South Korea, March 2025  Lee Jin-man / Reuters

Khi nói đến lực lượng quân sự, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump đã có lập trường chia rẽ rõ rệt. Một mặt, Trump tự nhận là người hoài nghi về sự ràng buộc với nước ngoài. Ông đã nhanh chóng làm ấm mối quan hệ với Nga với hy vọng chấm dứt chiến tranh ở Ukraine. Chính sách đối ngoại "Nước Mỹ trên hết" của ông thường chỉ trích việc tham gia quân sự ở nước ngoài. Và trong bài phát biểu nhậm chức, ông đã nói rằng nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của ông sẽ được đánh giá bằng "những cuộc chiến mà chúng ta không bao giờ tham gia". Mặt khác, Trump liên tục phô trương sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ. Bộ Ngoại giao của ông tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ can thiệp nếu Trung cộng tấn công lãnh thổ, tàu thuyền hoặc máy bay của Philippines - một đồng minh theo hiệp ước của Hoa Kỳ. Ông đã đưa ra những lời đe dọa khoa trương đối với Iran và Triều Tiên. Kể từ khi đắc cử, Trump cũng tỏ ra diều hâu với những người bạn của Hoa Kỳ, tuyên bố rằng Canada "sẽ trở thành một quốc gia vĩ đại" và rằng ông sẽ cân nhắc sử dụng quân đội để chiếm Greenland và Kênh đào Panama.

Trên bề mặt, sự kết hợp giữa chủ nghĩa cô lập và hiếu chiến này có vẻ phản ánh tính cách khó đoán nói chung của Trump, thậm chí là thiếu mạch lạc. Rốt cuộc, tổng thống nổi tiếng với việc bày tỏ quan điểm trái ngược với lập trường chung của mình. Nhưng hóa ra công chúng Hoa Kỳ cũng khá sẵn sàng sử dụng vũ lực mặc dù có vẻ như họ muốn rút lui. Đất nước này đã thay đổi mạnh mẽ trong thái độ diều hâu của mình, từ chủ nghĩa cô lập của những năm 1930 đến sự hiếu chiến của đầu những năm 1980. Nhưng giờ đây, nó đã có tư thế giống như con nhím, rút ​​lui nhưng vẫn gai góc. Khi được hỏi liệu họ có nghĩ rằng Washington nên đóng vai trò lớn hơn hay nhỏ hơn trên thế giới không, hầu hết người Mỹ đều chọn cách giảm bớt sự hiện diện. Nhưng trong một cuộc khảo sát mà chúng tôi tiến hành vào tháng 7 đối với người Mỹ bình thường cũng như các cựu nhà hoạch định chính sách của Hoa Kỳ, chúng tôi thấy rằng phần lớn rõ ràng ủng hộ việc tấn công Trung cộng nếu Đội quân Giải phóng Nhân dân Tầu (PLA) tấn công các tàu của Hoa Kỳ ở Biển Đông. Họ ủng hộ bất kể quân đội Hoa Kỳ có thiệt mạng trong các cuộc tấn công hay không. Và những phát hiện cho thấy rằng người Mỹ sẽ sẵn sàng triển khai quân đội Hoa Kỳ chống lại các đối thủ khác của Hoa Kỳ.

Những phát hiện này không có nghĩa là người Mỹ đang kêu gọi chiến tranh. Nhiệm kỳ đầu tiên của Trump nhìn chung được đánh dấu bằng sự kiềm chế khi nói đến các cuộc xung đột quân sự mới và có nhiều lý do để nghĩ rằng Washington sẽ muốn tránh xung đột với các đối thủ nói chung - và Bắc Kinh nói riêng. Nhưng nó cho thấy rằng, nếu căng thẳng bùng phát ở Biển Đông, ở những nơi khác với Trung cộng hoặc với các đối thủ lớn khác, thì khả năng ủng hộ việc huy động lực lượng mặt đất của Hoa Kỳ có thể cao hơn nhiều so với những gì thường được cho là. Chính sách đối ngoại của Washington không phải lúc nào cũng do dư luận quyết định. Nhưng các chính quyền có xu hướng nhạy cảm với quan điểm của công chúng về việc triển khai quân đội, vì vậy những phát hiện này cho thấy rằng chiến tranh có thể nổ ra nếu đối thủ tấn công lực lượng Hoa Kỳ.

HAI LỐI SUY NGHĨ CỦA MỸ

Khi được hỏi trực tiếp, hầu hết người Mỹ đều nói rằng họ muốn rút lui khỏi thế giới. Trong một cuộc thăm dò của tờ New York Times vào tháng 1 năm 2025, 60 phần trăm số người được hỏi cho biết họ muốn Hoa Kỳ ít chú ý hơn đến các vấn đề ở nước ngoài và tập trung "vào các vấn đề trong nước" - bao gồm 75 phần trăm đảng viên Cộng hòa (so với 47 phần trăm đảng viên Dân chủ). Chỉ có 38 phần trăm số người được hỏi muốn Hoa Kỳ "tích cực tham gia vào các vấn đề thế giới". Tương tự như vậy, một cuộc thăm dò gần đây của Hội đồng Chicago về các vấn đề toàn cầu cho thấy chỉ có 17 phần trăm người Mỹ nghĩ rằng sự giàu có và sức mạnh của Hoa Kỳ có nghĩa là "nước này có trách nhiệm đóng vai trò lãnh đạo trong các vấn đề thế giới".

Tuy nhiên, có những dấu hiệu cho thấy quan điểm của người Mỹ về vai trò quốc tế của đất nước họ rất phức tạp. Theo nghiên cứu của nhà khoa học chính trị Jeffrey Friedman, cử tri Hoa Kỳ hầu như luôn ủng hộ các ứng cử viên tổng thống hung hăng hơn những người không hung hăng. Friedman phát hiện ra rằng cử tri ủng hộ các chính sách diều hâu ngay cả khi họ tuyên bố muốn có các chính sách ôn hòa hơn. Ví dụ, vào những năm 1990, người Mỹ nói với những người thăm dò ý kiến ​​rằng họ phản đối sự can thiệp quân sự của Hoa Kỳ vào vùng Balkan. Nhưng sau khi Tổng thống Bill Clinton bắt đầu ném bom Serbia, tỷ lệ ủng hộ của ông đã tăng lên.

Tuy nhiên, ném bom một đối thủ yếu hơn nhiều là một chuyện. Nhưng gây chiến với một đối thủ mạnh lại là chuyện khác. Để xác định người Mỹ sẽ cảm thấy thế nào về việc sử dụng vũ lực trong tình huống như vậy, chúng tôi đã tiến hành một cuộc khảo sát thử nghiệm liên quan đến một cuộc đụng độ tiềm tàng ở Biển Đông, vùng biển bao quanh Đài Loan và là nơi diễn ra một phần ba hoạt động vận chuyển toàn cầu. Có lẽ đây là địa điểm tranh chấp chính giữa Bắc Kinh và Washington, với cả tàu chiến Trung Quốc và Hoa Kỳ thường xuyên tuần tra vùng biển này. (Đây cũng là nơi chính quyền Trump muốn tập trung sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ, không giống như châu Âu.) Trong một cuộc khảo sát được Dự án Chicago về An ninh và Các mối đe dọa hỗ trợ và được thực hiện bởi tổ chức nghiên cứu NORC, chúng tôi đã yêu cầu 2.000 người Mỹ bình thường và 700 cựu nhà hoạch định chính sách tưởng tượng rằng Trung Quốc tấn công một tàu sân bay của Hoa Kỳ ngoài khơi bờ biển của một đồng minh hiệp ước của Hoa Kỳ trong khu vực. Một nửa số người được hỏi được thông báo rằng 250 thủy thủ Hoa Kỳ đã thiệt mạng trong cuộc tấn công, trong khi một nửa còn lại được thông báo rằng không có thủy thủ nào thiệt mạng. Sau đó, chúng tôi hỏi họ liệu họ có ủng hộ việc Washington triển khai thêm lực lượng đến khu vực này hay không và liệu những lực lượng bổ sung đó cũng có nên được giao nhiệm vụ phản công các tài sản trên không và trên biển của Trung cộng hay không.

Tổng cộng, 51 phần trăm ủng hộ phản công khi không có thủy thủ nào thiệt mạng. Khi có thủy thủ thiệt mạng, 57 phần trăm ủng hộ tấn công. Đảng Cộng hòa đặc biệt ủng hộ trả đũa bằng vũ lực: 60 phần trăm ủng hộ trả đũa khi không có thủy thủ nào thiệt mạng và 67 phần trăm ủng hộ khi có tử vong. (Biên độ sai số cho các phát hiện của chúng tôi là ba phần trăm.) Đáng chú ý, chúng tôi đã tiến hành cuộc khảo sát này khi Joe Biden, một đảng viên Dân chủ, vẫn còn là tổng thống, cho rằng đảng Cộng hòa có thái độ diều hâu - ít nhất là đối với Trung cộng - bất kể ai nắm giữ chức vụ. Mặt khác, đảng Dân chủ thận trọng hơn. Họ chia đều, với 50 phần trăm ủng hộ phản công nếu cuộc tấn công của Trung cộng không gây ra thương vong. Sự ủng hộ tăng lên 57 phần trăm nếu binh lính Hoa Kỳ thiệt mạng.

Nhưng người Mỹ không chủ yếu có động cơ trả thù cho những người đã chết. Chỉ có 36 phần trăm số người được hỏi từ công chúng nói rằng đây là một yếu tố rất quan trọng trong quyết định của họ. Thay vào đó, người Mỹ dường như quan tâm nhiều hơn đến việc bảo vệ danh tiếng của Hoa Kỳ. Trong số những người trả lời công chúng ủng hộ phản công Trung cộng sau cái chết của các thủy thủ Hoa Kỳ, 53 phần trăm cho biết cần phải dùng vũ lực để duy trì danh tiếng quốc tế của Washington, so với chỉ 16 phần trăm những người không ủng hộ phản công. Trong số những người Cộng hòa, 63 phần trăm cho biết cần phải đáp trả bằng vũ lực để duy trì danh tiếng của Hoa Kỳ. Các học giả về quan hệ quốc tế tranh luận công khai về mức độ hành vi của Hoa Kỳ trong một cuộc khủng hoảng với Trung cộng sẽ ảnh hưởng đến hành vi của các đối thủ khác, chẳng hạn như Iran. Nhưng bất kể tác động thực tế là gì, cử tri dường như nghĩ rằng việc vun đắp danh tiếng cho sự quyết tâm là rất quan trọng.

NGÓN TAY NẢY CÒ

Những phát hiện của chúng tôi có ý nghĩa đối với các đối thủ khác của Hoa Kỳ. Mặc dù chúng tôi không hỏi về Iran hay Nga, nhưng có khả năng người Mỹ cũng sẽ ủng hộ hành động trả đũa nếu các quốc gia đó tấn công lực lượng Hoa Kỳ. Rốt cuộc, công chúng Hoa Kỳ có quan điểm tiêu cực về họ: 81 phần trăm người Mỹ có quan điểm không thuận lợi về Iran và một cuộc thăm dò năm 2024 chỉ ra rằng phần lớn người Mỹ ủng hộ việc sử dụng quân đội Hoa Kỳ nếu Iran tấn công Israel. Tương tự như vậy, cuộc thăm dò của Pew Research cho thấy 86 phần trăm người Mỹ có quan điểm không thuận lợi về Nga. Con số này bao gồm 88 phần trăm đảng viên Cộng hòa và những người thiên về đảng Cộng hòa, bất chấp lời lẽ có lợi của Trump đối với Moscow. Một cuộc thăm dò của YouGov năm 2024 cho thấy số người Cộng hòa ủng hộ việc bảo vệ một đồng minh NATO bị tấn công nhiều gấp ba lần so với việc không bảo vệ đồng minh đó.

Có lẽ có những giới hạn đối với sự ủng hộ này. Bối cảnh luôn định hình ý chí sử dụng vũ lực của công chúng Mỹ. Mọi người có nhiều khả năng ủng hộ hơn nếu Washington đang phản ứng với hành vi xâm lược rõ ràng, nếu cuộc tấn công của Hoa Kỳ có khả năng thành công và nếu các lợi ích quan trọng của Hoa Kỳ đang bị đe dọa. Ngược lại, họ luôn không muốn ủng hộ việc sử dụng vũ lực khi không có những điều kiện này—đó là một phần lý do tại sao Hoa Kỳ không can thiệp trong cuộc xâm lược Hungary của Liên Xô năm 1956, các cuộc chiến tranh Ấn Độ-Pakistan năm 1965 và 1971 và cuộc diệt chủng Rwanda năm 1995. Đó cũng là lý do tại sao Hoa Kỳ không bao giờ tham gia sâu vào cuộc nội chiến Syria, giới hạn sự can thiệp của mình trong việc ngăn chặn Nhà nước Hồi giáo ở Iraq và Syria.

Việc người Mỹ sẵn sàng sử dụng vũ lực chống lại Trung cộng, một đối thủ có vũ khí hạt nhân, vẫn làm tăng khả năng Washington sẽ trả đũa nếu bị Bắc Kinh tấn công. Điều đó đặc biệt đúng dưới thời Trump, một người tiêu thụ phương tiện truyền thông cánh hữu háu đói và đồng điệu với niềm tin của đảng Cộng hòa. Nhưng điều đó không có nghĩa là xung đột giữa hai nước có khả năng xảy ra. Là những quốc gia có vũ khí hạt nhân, Trung cộng và Hoa Kỳ vẫn có động lực mạnh mẽ để tránh chiến tranh trực tiếp. Không bên nào muốn một cuộc xung đột có thể hủy diệt thế giới.

Người Mỹ rất quan tâm đến việc bảo vệ danh tiếng của Hoa Kỳ.

Lịch sử cho thấy rằng sự răn đe sẽ được duy trì.

Hoa Kỳ đã vượt qua toàn bộ Chiến tranh Lạnh mà không phải chiến đấu với đối thủ Liên Xô. Trong khi đó, Bắc Kinh vẫn luôn không muốn đối đầu với quân đội Hoa Kỳ. Trong cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan những năm 1950, nhà lãnh đạo Trung cộng Mao Trạch Đông đã ra lệnh cho quân đội của mình tránh tấn công trực tiếp vào lực lượng Hoa Kỳ. Trung cộng đã lùi bước vào năm 1995, khi Hoa Kỳ phản đối các cuộc thử tên lửa hiếu chiến của mình, và vẫn giữ bình tĩnh vào năm 1999 sau khi Hoa Kỳ vô tình ném bom đại sứ quán Trung cộng tại Belgrade. Trung cộng đã tìm ra giải pháp ngoại giao nhanh chóng vào năm 2001 sau một vụ va chạm trên không với một máy bay Mỹ khiến một phi công chiến đấu Trung cộng thiệt mạng.

Hai nước hiện nay đối đầu nhau hơn nhiều so với thời điểm đầu thiên niên kỷ. Tuy nhiên, ngay cả khi sức mạnh của mình ngày càng tăng, Bắc Kinh dường như vẫn ngần ngại thể hiện sức mạnh quân sự của mình. Cho đến nay, Trung cộng đã tiến hành các cuộc tấn công mạng thay vì các cuộc không kích vào Đài Loan. Họ đã đâm vào tàu của Philippines, nhưng nhìn chung họ đã sử dụng tia laser không gây chết người và vòi rồng để đẩy lùi tàu của Philippines. Có khả năng là sự sẵn sàng sử dụng vũ lực thậm chí có thể thúc đẩy sự ổn định trong quan hệ Hoa Kỳ-Trung cộng. Bằng cách tuyên bố rằng sẽ ủng hộ Philippines, chính quyền Trump có thể thúc đẩy Trung cộng quyết định kiềm chế các hành động khiêu khích của mình thay vì thử thách tổng thống.

Tuy nhiên, Trump có thể có nhiều khả năng lôi kéo Hoa Kỳ vào một cuộc chiến hơn mọi người nghĩ. Tổng thống dường như quan tâm nhất đến việc chấm dứt xung đột để theo đuổi Giải Nobel Hòa bình mà ông rất mong muốn. Nhưng ông ấy nói rất to. Và nếu Hoa Kỳ bị tấn công, người Mỹ sẵn sàng để ông ấy vung một cây gậy lớn.


Cong Hinh Pham

Phóng tác

Theo nhận định các tác giả:

ALEXANDRA CHINCHILLA là Trợ lý Giáo sư tại Trường Chính phủ và Dịch vụ Công Bush thuộc Đại học Texas A&M.

PAUL POAST là Phó Giáo sư Khoa học Chính trị tại Đại học Chicago, Trợ lý Giám đốc Dự án Chicago về An ninh và Mối đe dọa và là Nghiên cứu viên Không thường trú tại Hội đồng Chicago về Các vấn đề Toàn cầu.

DAN REITER là Giáo sư Khoa học Chính trị Samuel Candler Dobbs tại Đại học Emory và là tác giả của cuốn sách sắp ra mắt Untied Hands: How States Avoid the Wrong Wars.

KẾ HOẠCH XÂM CHIẾM THÔN TÍNH ĐÀI LOAN 2027 BỊ BỂ DĨA

Tập nhất quyết muốn hoàn thành một việc lớn, đó là thôn tính Đài Loan năm 2027 . Việc này chủ yếu dựa vào hai quân chủng lớn là Lực lượng Ho...